Bắn hạ máy bay
trên đường vào chiến dịch
Cứ gần tới những ngày cuối tháng 4, cựu
chiến binh Lê Đại Cương không khỏi bồi hồi khi ôn lại những câu chuyện thời
quân ngũ. Trong những câu chuyện của mình, ông không quên nhắc tới bài báo
“Lưới phòng không trong chiến đấu hợp đồng” đăng trên báo Chiến sĩ Giải phóng,
số 18, ra ngày 17/5/1975.
Trang báo đã ngả vàng, trên đó in một
tấm ảnh Thượng sĩ Lê Đại Cương với quả tên lửa A-72 trên vai. Bao nhiêu năm ông
đã cất giữ bài báo đó cẩn thận như một tài sản quý giá của một thời hoa lửa.
Bài báo có đoạn : “Đang trên đường hành quân thần tốc, thấy không quân ngụy
đánh chặn đoàn xe, đồng chí Lê Đại Cương, Trung đội trưởng A72, phóng một quả
đạn, diệt tại chỗ chiếc F-5 ở cầu Vĩnh Hảo, buộc địch phải bỏ dở trận đánh,
chuồn thẳng”…
Tấm ảnh Thượng sĩ Lê Đại Cương trên báo
Chiến sĩ giải phóng ngày 18/5/1975.
Và bao kỷ niệm ùa về, cái không khí rạo
rực, sục sôi khi hành quân tiến về Sài Gòn những ngày cuối tháng 4 năm 1975 lại
sống dậy trong những câu chuyện của người cựu chiến binh.
Lê Đại Cương sinh ra ở quê hương Điện
Thọ, Điện Bàn, Quảng Nam. Năm 1967, ông nhập ngũ, là chiến sĩ thông tin của Trung
đoàn 274, tham gia bảo đảm thông tin thông suốt ở nhiều trận địa quan trọng là
trọng điểm đánh phá của giặc như núi Hồng Lĩnh ở Thị xã Hà Tĩnh, đỉnh Hoành Sơn
ở Đèo Ngang, cầu Hàm Rồng, Thanh Hóa... Đầu năm 1973, ông được điều chuyển từ
đơn vị thông tin sang tham gia huấn luyện tên lửa A72 ở Tiểu đoàn 172, Trung
đoàn 237, Quân chủng Phòng không-Không quân (nay là Tiểu đoàn 172, Trung đoàn
64, Sư đoàn 361, Quân chủng Phòng không-Không quân). Sau khi kết thúc huấn
luyện, Cương về Lạng Giang, Bắc Giang huấn luyện sử dụng tên lửa A-72 cho chiến
sĩ mới. Đến tháng 4/1975, để đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ của chiến trường, nhiều
cán bộ, chiến sĩ của Tiểu đoàn 172 được cấp trên điều động phối thuộc cho các
quân đoàn chiến đấu.
Buổi sáng ngày 14/4/1975 là một sáng khó
quên trong cuộc đời của Lê Đại Cương. Đồng chí Tiểu đoàn trưởng Tiểu đoàn 172
gặp ông và hỏi: “Đồng chí có đi chiến đấu được không?”. Câu hỏi của Tiểu đoàn
trưởng vừa dứt, không nghĩ ngợi gì, Cương trả lời ngay: “Tôi sẵn sàng nhận
nhiệm vụ, lên đường”. Sau đó, ông được biên chế về Đại đội 15, Tiểu đoàn 6, Sư
đoàn Phòng không 673, Quân đoàn 2 (nay là Lữ đoàn Phòng không 673, Quân đoàn
2). Và ngay trong đêm hôm đó, Lê Đại Cương theo đơn vị hành quân từ Bắc Giang
về sân bay Gia Lâm, lên máy bay để bay vào Đà Nẵng, rồi tiến quân vào miền Nam.
Trong khí thế vừa hành tiến vừa tiến công, bước vào Chiến dịch Hồ Chí Minh, cả
đơn vị nêu cao khẩu hiệu: “Đi nhanh bám sát đội hình/ Phát huy hỏa lực ta giăng
lửa trời/ Máy bay địch phải bắn rơi/ Lập công dâng Bác - Đẹp trời tháng Năm”.
Chặng đường hành quân thần tốc trong
Chiến dịch Hồ Chí Minh lịch sử vô cùng vất vả. Rất nhiều đêm bộ đội phải thức
trắng làm công sự trận địa, hoặc triển khai đội hình chiến đấu ngay trên đường
hành quân để đánh trả những đợt đánh cản của bộ binh địch. Nhưng toàn Sư đoàn
673 luôn nêu cao quyết tâm: “Đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”. Là một người
lính lần đầu tiên vào chiến trường, Lê Đại Cương thầm nhủ mình phải cố gắng hết
sức, thực hiện tốt nhiệm vụ, góp phần cùng đồng đội nâng cao khí thế thi đua
hừng hực.
Rồi khi đơn vị hành quân qua quê hương
Điện Bàn, địa điểm dừng chân rất gần quê nhà, lòng anh lính trẻ Lê Đại Cương
bỗng trào dâng niềm xúc động. Cương xin phép chỉ huy tranh thủ về thăm bà nội
đã ngoài 80 tuổi, vì từ ngày nhập ngũ, anh không có một dòng tin từ quê nhà.
Được chỉ huy sư đoàn đồng ý, anh lính trẻ chạy như bay về nhà. Đã gần mười năm
không gặp đứa cháu nội, giờ đã là một người lính trong đội hình Quân giải
phóng, bà nội Cương xúc động ôm đứa cháu khóc mừng mừng, tủi tủi. Rồi bà nấu
cho Cương một bát mì Quảng, vừa nhìn cháu ăn bà vừa dặn Cương phải cố gắng
chiến đấu cho tốt. Dặn cháu được vài câu, giọng bà lại nghẹn lại…
Ăn vội xong bát mì của bà nấu, ôm bà một
lần nữa, Cương chào bà rồi nhanh chóng trở lại đơn vị. Cuộc gặp gỡ vô cùng ngắn
ngủi, như đã tiếp thêm sức mạnh, ý chí chiến đấu cho người lính trẻ.
Cựu chiến binh Lê Đại Cương.
Ngày 17/4/1975, đơn vị di chuyển đến khu
vực cầu Vĩnh Hảo (huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận). Tiểu đội của Lê Đại Cương
được giao làm nhiệm vụ canh trực máy bay bảo vệ đội hình đơn vị. Giữa trưa, một
tốp máy bay F-5 từ hướng biển bay vào. Một quả rocket bắn vào giữa đội hình đơn
vị. Tình hình diễn biến bất ngờ, cấp trên lệnh cho toàn đơn vị triển khai đội
hình chiến đấu. Không do dự, Cương vác một quả đạn A72 lên vai, rồi bảo đồng
đội đặt thêm một quả A72 nữa nơi gốc cây me cụt, cạnh cầu.
Vừa kịp lúc, một chiếc F-5 xuất hiện, bổ
nhào xuống đội hình. Cương nín thở bóp cò. Quả đạn rời nòng, một quầng khói màu
cam trùm lên, rồi quả đạn lao lên vun vút đâm thẳng vào chiếc F-5. Một vùng
sáng lòa tung tỏa khắp bầu trời. Mọi người trong đơn vị reo hò: “F-5 bị bắn hạ
rồi!”. Lê Đại Cương vác tiếp quả thứ hai lên vai. Nhưng những chiếc máy bay
địch khác thấy vậy đã vội vàng quay đầu, bỏ dở trận đánh. Niềm vui hân hoan bắn
hạ được 1 chiếc F-5 cứ râm ran trong lòng Cương và đồng đội. Chiến thắng này đã
góp phần cổ vũ bước chân những người lính thần tốc tiến về sào huyệt cuối cùng
của địch. Cả đơn vị như một mũi tên, thẳng hướng Sài Gòn,
Ngày 18/4, Trung đội A72 của Cương được
phân công theo hướng hành tiến của Sư đoàn 304, tiến vào căn cứ Nước Trong.
Trong ba ngày, từ 26 đến 28/4, đơn vị Cương trong đội hình chiến đấu của Sư
đoàn tiếp tục bắn rơi 4 máy bay của địch. Chiều 29/4, đơn vị hành quân từ căn
cứ Nước Trong ra Đồng Nai. Sáng 30/4, đơn vị tiến vào Sài Gòn trong không khí
hân hoan đón chào của người dân.
Sau ngày đất nước được giải phóng, Lê
Đại Cương được tặng thưởng Huân chương Chiến công giải phóng hạng Ba. Bức ảnh
Thượng sĩ Lê Đại Cương ôm quả đạn A72 trên vai cùng câu chuyện bắn rơi máy bay
F-5 trên đường chiến dịch đã được đăng trên báo Chiến sĩ Giải phóng.
Giờ đây, mỗi tháng Tư về, ôn lại chuyện
cũ là một lần xúc động, ông bảo: Được chứng kiến ngày đất nước thống nhất là
niềm hạnh phúc, sung sướng nhất của cuộc đời tôi.
Nguồn: https://cand.com.vn/doi-song/-ban-ha-may-bay-tren-duong-vao-chien-dich-i691550/
Tấm ảnh kỷ vật
Bố mẹ anh Nguyễn Văn Minh quê ở huyện Phú Xuyên, tỉnh Hà Tây
(nay thuộc Hà Nội) chỉ sinh được một mình anh. Học hết lớp 10 phổ thông, anh đi
học nghề cơ điện.
Đang học thì cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước bùng nổ, anh
xung phong nhập ngũ, chuyển sang học lớp thợ pháo X5, Quân khu 3. Sau đó, anh
được điều động về làm thợ pháo cho Tiểu đoàn 15, Trung đoàn 284, Sư đoàn 673
(nay là Lữ đoàn 673, Quân đoàn 2) rồi cùng đơn vị cơ động vào địa bàn Quân khu
4. Tôi kém anh 5 tuổi đời, 2 tuổi quân. Sau khi bị thương, tôi đi điều dưỡng ở
Đoàn 200, Quân khu 4. Khỏi vết thương, tôi được điều về làm pháo thủ cho Đại
đội 10, Tiểu đoàn 15, đơn vị anh đang công tác.
Thấy tôi hiền lành, vui vẻ, tích cực nên anh rất quý. Ngoài
những giờ học chung với tập thể, tôi còn được anh chỉ bảo riêng về tính năng,
tác dụng của khí tài phòng không. Qua trò chuyện, biết tôi mồ côi bố từ nhỏ, ở
quê chưa có vợ, chỉ có mẹ và một em gái nhỏ nên anh luôn gần gũi, động viên.
Anh rất vui khi thấy tôi thao tác thuần thục đủ các số của khẩu đội pháo.
Rồi tôi được điều làm chiến sĩ nuôi quân, sau đó là tiểu đội
trưởng hậu cần. Ít lâu sau, tôi được thăng quân hàm Trung sĩ ngang với quân hàm
của anh và được giao làm quản lý của đại đội. Mà quản lý và quân khí đều ở
chung trong bộ phận hậu cần nên anh vẫn luôn giúp đỡ tôi nhiều việc. Tôi đi
nhận hàng về mệt nhọc, anh sắp xếp kho lương thực giúp. Có đêm tôi phải thức để
cân bằng sổ sách cho kịp báo cáo, anh nhắc tôi giữ gìn sức khỏe. Nhiều đêm, tôi
được phân công gác bảo vệ, thấy tôi mệt mỏi, anh gác thay. Anh dành cho tôi sự
yêu thương, giúp đỡ thật chân thành. Một hôm, tôi thủ thỉ đề nghị cùng anh kết
nghĩa anh em. Anh vui vẻ trả lời: “Nhưng không được bướng bỉnh đấy!”, rồi anh
đưa ngón tay trỏ ngoắc vào ngón tay tôi hứa hẹn như trẻ con.
Cuối năm 1968, Tiểu đoàn 15 được điều động lên phía tây Trường
Sơn bảo vệ tuyến đường vận tải chiến lược 559. Có khi chúng tôi phải nổ súng
ngay trên đường hành quân. Các trang bị vũ khí cũng bị tổn thất, hư hỏng nhiều.
Nhưng về súng đạn, anh Minh vẫn cùng cấp trên bảo đảm đầy đủ cho đơn vị chiến
đấu. Anh còn có năng khiếu về hội họa, âm nhạc, luôn vui vẻ với mọi người.
Ngày 1-10-1971, Đại đội 10 của tôi được tuyên dương danh hiệu
Anh hùng LLVT nhân dân vì thành tích đặc biệt xuất sắc, bắn rơi 32 chiếc máy bay
Mỹ. Một lần, tôi đi công tác dân vận trở về, thấy vẻ mặt anh buồn buồn. Tôi hỏi
anh: “Có việc gì vậy?”. Anh nói: “Mình không được ở với Ngọc nữa rồi. Cấp trên
điều Ngọc ra đơn vị trinh sát chỉ huy pháo!”. Công việc của tôi càng nặng nề,
dồn dập hơn. Nhất là sau đó, đơn vị có lệnh cùng các quân, binh chủng hợp đồng
quyết tâm giải phóng tỉnh Quảng Trị năm 1972. Tôi phải đi trinh sát địa hình
liên miên để tổ chức cơ động cùng mặt trận. Mỗi lần được về đơn vị nghỉ là đã
có hầm anh làm giúp để tôi phòng tránh.
Một ngày cuối tháng 6-1972, trong một trận đánh trả máy bay ở
gần cầu Đông Hà, hầm của tôi bị đất vùi chừng 2m. Anh em tập trung đào bới, lôi
tôi lên trong lúc địch vẫn còn bắn phá. Thấy mặt mũi tôi bê bết máu nhưng vẫn
còn thở, đơn vị khẩn trương đưa tôi đi cấp cứu. Trước khi tôi đi, anh Minh vừa
khóc vừa loay hoay chuẩn bị đầy đủ tư trang cho tôi vào ba lô. Anh rút trong
túi ra một tấm ảnh, nói:
- Đây là vợ con anh. Chị Phương và cháu Bình hiện ở thị trấn
Kiện Khê, Thanh Liêm (Hà Nam ngày nay). Ngọc ra Bắc điều trị cho lành rồi tìm
chị và cháu nhé!
Nhưng tôi không ra Bắc, chỉ điều trị tại bệnh xá trung đoàn ở
Vĩnh Chấp chừng nửa tháng. Sức khỏe ổn định, tôi xin bác sĩ trở về đơn vị. Đang
giải quyết giấy tờ, bỗng chỉ huy trạm xá cho biết Đại đội 10 của tôi cùng một
số đơn vị đánh chiếm sân bay Ái Tử thành công. Nhưng trong trận đánh ấy, anh
Minh đã anh dũng hy sinh. Lặng đi vì thương xót anh, rồi tôi lại nhanh chóng
trở về đơn vị. Thầm nghĩ đến vợ con anh khi biết tin này, trong lòng tôi càng
nặng trĩu.
Tháng 7-1972, tôi bị thương nặng tại Ngã ba Long Hưng, nơi cửa
ngõ vào Thành cổ Quảng Trị. Từ đó, tôi phải rời vị trí chiến đấu. Trong quá
trình điều trị dài, tôi vẫn luôn nhớ đến người đồng đội, người anh kết nghĩa
của mình.
Sau này, tôi đã liên hệ nhiều nơi nhờ tìm thông tin về vợ con
anh. Một ngày giữa năm 2015, tôi rất đỗi vui mừng, xúc động khi được đón chị
Phương và cháu Bình đến thăm nhà ở TP Vinh, tỉnh Nghệ An. Thì ra tấm ảnh kỷ vật
anh Minh đưa ngày nào, sau khi tôi gửi đăng trên báo, chị Phương đã phóng to và
xác nhận tấm ảnh chụp hai mẹ con. Tôi đã hướng dẫn mẹ con chị vào thắp hương
phần mộ anh Minh ở Khu B, Nghĩa trang Liệt sĩ xã Triệu Ái, huyện Triệu Phong,
tỉnh Quảng Trị.
ĐẶNG SỸ NGỌC
Nguồn: https://sknc.qdnd.vn/ky-niem-sau-sac/tam-anh-ky-vat-502667



Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét